Phụ Mẫu và Huynh Đệ kẹp cung Mệnh: thế giáp cung trong tử vi và cách đọc bầu không khí gia đình
Trả lời ngắn: trên mọi lá số tử vi, cung Phụ Mẫu và cung Huynh Đệ luôn nằm sát hai bên cung Mệnh, nên người xưa coi chúng như hai bức vách kẹp lấy mình: một bên là người trên, một bên là người cùng lứa. Khi hai ô này cùng chứa một cặp sao, sách gọi là thế "giáp", ví dụ giáp Kình Đà, giáp Xương Khúc, giáp Tả Hữu. Đọc thế giáp là đọc bầu không khí gia đình quanh mình lúc lớn lên, không phải phán cha mẹ hay anh em tốt xấu.
Bài ba cung người thân đã giới thiệu vị trí của Tử Tức, Phụ Mẫu, Huynh Đệ và quan hệ tam hợp, xung chiếu của chúng. Bài này đi vào một quan hệ thứ ba ít được giải thích: quan hệ "kẹp" giữa các ô liền kề. Có hai lá số mẫu đã tính lại bằng phép đếm, và một bảng điều kiện để tự kiểm lá số của mình có thế giáp hay không.
Giáp cung là gì
Ngoài tam hợp và xung chiếu, nhiều sách tử vi còn xét hai ô nằm ngay hai bên một cung. Nếu hai ô đó cùng chứa một cặp sao có quan hệ với nhau, cung ở giữa được gọi là "bị giáp" hay "được giáp" bởi cặp sao ấy.
Thế giáp thường được coi là ảnh hưởng gián tiếp: nhẹ hơn sao nằm trong cung, nhưng là thứ bao quanh. Có người ví nó như hai người đứng hai bên mình trong một bức ảnh: không phải mình, nhưng làm thành khung của mình.
Vì sao hai ô kẹp cung Mệnh lại là cha mẹ và anh em
Thứ tự mười hai cung không đổi. Đi nghịch từ Mệnh là Huynh Đệ, đi thuận từ Mệnh là Phụ Mẫu. Nói cách khác, ở bất kỳ lá số nào:
- Ô ngay trước Mệnh theo chiều địa chi là Huynh Đệ.
- Ô ngay sau Mệnh theo chiều địa chi là Phụ Mẫu.
Người xưa sắp như vậy có thể không phải ngẫu nhiên. Một đứa trẻ sinh ra trong gia đình truyền thống được bao bọc bởi hai lớp người: người trên dạy dỗ, che chở; người ngang hàng chơi cùng, tranh giành, đỡ đần. Mệnh nằm giữa hai lớp đó. Đọc thế giáp của Mệnh là đọc cái khung ấy.
Cũng theo cấu trúc này, mỗi cung người thân lại bị kẹp bởi những cung khác, tạo ra những liên tưởng thú vị:
| Cung | Hai ô kẹp hai bên | Cách liên tưởng thường gặp |
|---|---|---|
| Mệnh | Phụ Mẫu và Huynh Đệ | Mình lớn lên giữa người trên và người cùng lứa |
| Phụ Mẫu | Mệnh và Phúc Đức | Cha mẹ đứng giữa mình và gốc rễ dòng họ |
| Huynh Đệ | Mệnh và Phu Thê | Anh em đứng giữa mình và người bạn đời |
| Tử Tức | Phu Thê và Tài Bạch | Con cái nằm giữa chuyện vợ chồng và chuyện tiền bạc |
Cột cuối là liên tưởng của người đọc, không phải quy tắc an sao. Nhưng nó giúp nhớ vì sao trong nhiều gia đình, chuyện anh em hay va với chuyện dâu rể, và chuyện nuôi con hay đi cùng chuyện tiền.
Ba thế giáp hay được nhắc và khi nào chúng xuất hiện
Không phải cặp sao nào cũng có thể kẹp cung Mệnh. Điều kiện phụ thuộc cách an từng sao. Bảng dưới đây đã được kiểm bằng phép đếm theo quy tắc an sao phổ biến:
| Thế giáp | Cách an cặp sao | Khi nào kẹp Mệnh |
|---|---|---|
| Giáp Kình Đà | Kình Dương luôn ở ô sau Lộc Tồn, Đà La ở ô trước | Mọi lá số có Lộc Tồn nằm ở cung Mệnh. Khi đó Kình Dương rơi vào Phụ Mẫu, Đà La rơi vào Huynh Đệ |
| Giáp Xương Khúc | Văn Xương từ Tuất đếm nghịch theo giờ, Văn Khúc từ Thìn đếm thuận theo giờ | Chỉ khi Mệnh ở Sửu hoặc Mùi và sinh một trong bốn giờ Dần, Thìn, Thân, Tuất, tuỳ ô |
| Giáp Tả Hữu | Tả Phù từ Thìn đếm thuận theo tháng, Hữu Bật từ Tuất đếm nghịch theo tháng | Chỉ khi Mệnh ở Sửu hoặc Mùi và sinh một trong bốn tháng ba, năm, chín, mười một, tuỳ ô |
Cụ thể hơn với Xương Khúc: giờ Thân và giờ Tuất thì cặp sao kẹp ô Sửu, giờ Dần và giờ Thìn thì kẹp ô Mùi. Với Tả Hữu: tháng chín và tháng mười một kẹp ô Sửu, tháng ba và tháng năm kẹp ô Mùi. Mệnh phải nằm đúng ô bị kẹp thì mới gọi là Mệnh được giáp.
Một hệ quả ít người để ý: giáp Kình Đà đi kèm Lộc Tồn ở Mệnh như hình với bóng. Sách nào khen "Lộc Tồn thủ Mệnh" mà không nhắc Kình Đà kẹp hai bên là mới nói một nửa.
Lá số mẫu một: Lộc Tồn ở Mệnh, giáp Kình Đà
Lá số giả định: nữ, năm can Giáp, tháng giêng âm lịch, ngày mười lăm, giờ Tý. Tính lại từng bước:
- Từ Dần là tháng giêng, đếm nghịch tới giờ Tý vẫn ở Dần. Mệnh ở Dần. Sinh giờ Tý nên Thân cũng ở Dần, tức Mệnh Thân đồng cung.
- Năm Giáp, ô Dần mang can Bính. Bính Dần nạp âm Hoả, lá số là Hoả lục cục.
- Năm Giáp, Lộc Tồn an ở Dần, đúng cung Mệnh. Kình Dương ở Mão là Phụ Mẫu, Đà La ở Sửu là Huynh Đệ.
- Ngày mười lăm, Hoả lục cục: Tử Vi an ở Sửu. Từ đó an hai chòm chính tinh.
| Cung | Ô | Chính tinh | Sao đáng chú ý |
|---|---|---|---|
| Huynh Đệ | Sửu | Tử Vi, Phá Quân | Đà La; Phá Quân hoá Quyền theo can Giáp |
| Mệnh | Dần | không có chính tinh | Lộc Tồn |
| Phụ Mẫu | Mão | Thiên Phủ | Kình Dương |
Đọc cho chừng mực
Mệnh không có chính tinh, chỉ có Lộc Tồn, kẹp hai bên bởi Kình Dương và Đà La. Lối đọc phổ biến cho Lộc Tồn là cẩn thận, biết giữ, có khi dè dặt. Thế giáp Kình Đà hay được đọc là cảm giác bị kẹp giữa trách nhiệm: phía trên là cha mẹ có kỳ vọng rõ, phía bên là anh chị em có tiếng nói mạnh.
Đặt thêm chính tinh hai bên vào thì bức tranh rõ hơn. Phụ Mẫu có Thiên Phủ, sao hay được đọc là người trên vững vàng, lo xa. Huynh Đệ có Tử Vi, Phá Quân hoá Quyền, bộ sao hay được đọc là anh chị em có cá tính mạnh, thích tự quyết. Một câu tóm có chừng mực: "Bạn lớn lên trong một gia đình có nề nếp, người lớn lo xa, anh em cá tính; bạn quen dè dặt và giữ ý. Điểm mạnh là sự cẩn trọng, điểm cần để ý là dễ ôm việc một mình mà không nói ra."
Lá số mẫu hai: Mệnh ở Sửu, giáp Xương Khúc
Lá số giả định: nam, năm can Mậu, tháng tám âm lịch, ngày mười, giờ Thân.
- Từ Dần đếm thuận tới tháng tám được Dậu; từ Dậu đếm nghịch tới giờ Thân được Sửu. Mệnh ở Sửu.
- Năm Mậu, ô Sửu mang can Ất. Ất Sửu nạp âm Kim, lá số là Kim tứ cục.
- Giờ Thân: Văn Xương từ Tuất đếm nghịch tới Dần, Văn Khúc từ Thìn đếm thuận tới Tý. Dần là Phụ Mẫu, Tý là Huynh Đệ. Mệnh ở Sửu được giáp Xương Khúc.
- Ngày mười, Kim tứ cục: Tử Vi ở Ngọ. Mệnh có Thiên Đồng, Cự Môn.
| Cung | Ô | Chính tinh | Sao đáng chú ý |
|---|---|---|---|
| Huynh Đệ | Tý | Tham Lang | Văn Khúc; Tham Lang hoá Lộc theo can Mậu |
| Mệnh | Sửu | Thiên Đồng, Cự Môn | |
| Phụ Mẫu | Dần | Vũ Khúc, Thiên Tướng | Văn Xương |
Đọc cho chừng mực
Văn Xương, Văn Khúc là cặp sao hay được gắn với chữ nghĩa, học hành, lời ăn tiếng nói. Thế giáp Xương Khúc thường được đọc là môi trường quanh mình coi trọng học hành, sách vở. Huynh Đệ có Tham Lang hoá Lộc, hay được đọc là anh em hoạt bát, có nhiều mối giao thiệp.
Câu tóm: "Bạn lớn lên quanh những người coi trọng chuyện học và cách nói năng; anh em là chỗ mở rộng quan hệ cho bạn." Không có câu nào trong đó hứa đỗ đạt. Áp lực học hành lên con cái vì một cặp sao là chuyện đã được bàn trong bài về Xương Khúc, Khôi Việt ở chuyên mục Quan Lộc.
Đọc thế giáp như bầu không khí, không như phán xét người thân
Có một khác biệt quan trọng giữa hai cách nói:
- "Giáp Kình Đà nên cha mẹ, anh em hại mình." Đây là cách nói đổ lỗi, không có căn cứ và làm tổn thương.
- "Giáp Kình Đà gợi ý bạn có thể đã lớn lên với cảm giác phải dè chừng, phải giữ ý." Đây là cách nói về trải nghiệm của chính mình, mở ra để tự soi.
Lá số là của một người, không phải lá số của cha mẹ hay anh em. Hai ô kẹp Mệnh nói về cách mình cảm nhận người thân, không nói người thân thật sự là ai. Hai anh em ruột có lá số khác nhau thì cũng có hai cách cảm nhận khác nhau về cùng một người cha.
Một bài tập: viết lại cái khung lớn lên của mình
- Mở lá số, ghi sao ở ba ô liền nhau: Huynh Đệ, Mệnh, Phụ Mẫu.
- Kiểm xem có thế giáp nào trong bảng ở trên không.
- Dựa trên cách đọc sao, viết ba câu bắt đầu bằng: "Người lớn trong nhà mình…", "Anh chị em mình…", "Mình ở giữa thì…".
- Viết tiếp ba câu theo trí nhớ thật của mình, không nhìn lá số.
- So hai bộ câu. Chỗ khớp là chỗ lá số gợi được. Chỗ không khớp là chỗ trải nghiệm thật quan trọng hơn.
- Chọn một điều muốn nói với cha mẹ hay anh em mà lâu nay chưa nói. Đó là phần có ích nhất của bài tập.
Những sai lầm hay gặp
- Gọi mọi cặp sao hai bên là thế giáp. Chỉ những cặp có quan hệ với nhau, như Kình Đà, Xương Khúc, Tả Hữu, mới được sách gọi là giáp. Hai sao bất kỳ đứng hai bên thì không.
- Quên điều kiện an sao. Nhiều lời giải nói "Mệnh giáp Xương Khúc" trong khi Mệnh không ở Sửu hay Mùi. Đó là đọc nhầm hoặc nhầm lá số.
- Khen Lộc Tồn mà quên Kình Đà. Hai thứ đi cùng nhau, nên đọc cùng nhau.
- Dùng thế giáp để bắt bẻ người thân. Một câu đọc lá số không phải lý do để trách cha mẹ hay giận anh em.
- Bỏ qua chính tinh trong hai ô kẹp. Thế giáp chỉ là một lớp; chính tinh ở Phụ Mẫu và Huynh Đệ vẫn là phần chính khi đọc hai cung đó.
Thế giáp và chuyện chia việc trong nhà
Nhiều gia đình đọc lá số khi đang có chuyện cần bàn: ai chăm cha mẹ, ai giữ nhà thờ, ai đứng ra lo giỗ. Thế giáp có thể là một cách mở lời nhẹ nhàng: "Lá số con thấy con hay bị kẹp giữa, con muốn nói rõ phần việc của con." Nhưng phần việc thì phải bàn bằng lời, ghi ra giấy, và khi dính tới tài sản thì làm giấy tờ đàng hoàng. Bài về cung Huynh Đệ và chuyện chia đất, góp vốn đã nói kỹ phần giấy tờ này.
Khi nào nên hỏi người có chuyên môn
Nếu đọc thế giáp làm khơi lại những ký ức nặng nề thời thơ ấu, như bị đối xử tệ, bị bỏ mặc, hãy cân nhắc nói chuyện với chuyên gia tâm lý. Đó không phải chuyện lá số giải quyết được. Nếu gia đình đang căng thẳng kéo dài, tư vấn gia đình có thể giúp các bên nói chuyện với nhau. Nếu chuyện người thân dính tới tài sản, thừa kế, hỏi luật sư hoặc công chứng viên.
Với người đọc lá số, câu hỏi tốt nên đặt là: "Thế giáp này anh chị đọc theo sách nào, và nó có nói gì về chuyện em đang cần quyết không?" Người đọc đàng hoàng sẽ nói rõ đây là lớp gián tiếp.
Nhà nào muốn đặt một tượng Di Lặc ở phòng khách như lời nhắc giữ không khí hoan hỷ trong gia đình có thể xem mục Phật Di Lặc; nên đặt ở chỗ sạch sẽ, ngang tầm mắt trở lên, không đặt sát sàn hay cạnh nhà vệ sinh.