Lục cát tinh và lục sát tinh quanh cung Mệnh: cách an từng cặp và cách đọc cho cân
Trả lời ngắn: quanh cung Mệnh, ngoài chính tinh còn có mười hai phụ tinh hay được nhắc nhất, chia thành sáu sao cát là Tả Phù, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt và sáu sao sát là Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp. Chúng an theo tháng, giờ hoặc can năm sinh, nên tự tính được bằng tay. Khi đọc, cần xem sao nằm ngay trong ô Mệnh, kẹp hai bên, hay chiếu từ tam phương, và luôn đặt chúng cạnh chính tinh chứ không đọc riêng một sao.
Các bài trước của chủ đề này đã nói về chính tinh, về Tuần Triệt và độ sáng. Bài này đi vào lớp thứ hai: những phụ tinh làm đổi sắc thái của cung Mệnh, cách an từng nhóm, những quy luật vị trí tự kiểm được, và một ví dụ đọc trọn một ô Mệnh. Mọi vị trí sao trong bài đã được kiểm lại bằng mã chạy đúng quy tắc an sao.
Lục cát, lục sát là gì
Trong tử vi đẩu số, mười bốn chính tinh tạo nên "khung" của lá số. Phụ tinh thì nhiều hơn rất nhiều, nhưng có mười hai sao được nhắc đến thường xuyên nhất và được xếp thành từng cặp:
| Nhóm | Cặp sao | An theo | Hình ảnh hay được dùng |
|---|---|---|---|
| Lục cát | Tả Phù, Hữu Bật | Tháng sinh | Người phụ giúp, sự hỗ trợ ngang hàng |
| Văn Xương, Văn Khúc | Giờ sinh | Chữ nghĩa, học hành, khả năng diễn đạt | |
| Thiên Khôi, Thiên Việt | Can năm sinh | Người đi trước nâng đỡ, quý nhân | |
| Lục sát | Kình Dương, Đà La | Can năm sinh, đi kèm Lộc Tồn | Va chạm trực diện, trì trệ dây dưa |
| Hỏa Tinh, Linh Tinh | Chi năm và giờ sinh | Bùng phát nhanh, nóng vội | |
| Địa Không, Địa Kiếp | Giờ sinh | Hụt hẫng, mất mát, lối nghĩ khác thường |
Cột cuối là những hình ảnh quan niệm mà sách vở truyền lại, không phải điều kiểm chứng được. Dùng chúng như từ khoá để tự soi, không dùng như lời kết luận.
Bốn chỗ cần nhìn quanh cung Mệnh
Một phụ tinh tác động lên cung Mệnh theo bốn cách, mức độ được cho là giảm dần:
- Tọa thủ: sao nằm ngay trong ô Mệnh.
- Giáp: một cặp sao nằm ở hai ô kẹp hai bên ô Mệnh, ví dụ "Tả Hữu giáp Mệnh", "Kình Đà giáp Mệnh".
- Hội chiếu: sao nằm ở Tài Bạch hoặc Quan Lộc, hai đỉnh còn lại của tam hợp.
- Xung chiếu: sao nằm ở Thiên Di, ô đối diện.
Bộ tam hợp với xung chiếu đã được giải thích trong bài tam phương tứ chính của cung Mệnh. Ở đây chỉ cần nhớ: khi đếm phụ tinh quanh cung Mệnh, phải đếm đủ sáu ô (Mệnh, hai ô giáp, hai ô tam hợp, một ô xung chiếu), không chỉ nhìn một ô.
Tả Phù và Hữu Bật: an theo tháng sinh
Quy tắc: Tả Phù khởi tháng Giêng ở ô Thìn, đếm thuận chiều kim đồng hồ tới tháng sinh. Hữu Bật khởi tháng Giêng ở ô Tuất, đếm ngược chiều tới tháng sinh.
| Tháng | Giêng | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | Chạp |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tả Phù | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão |
| Hữu Bật | Tuất | Dậu | Thân | Mùi | Ngọ | Tỵ | Thìn | Mão | Dần | Sửu | Tý | Hợi |
Quy luật tự kiểm: hai sao luôn đối xứng nhau qua trục Sửu – Mùi. Vì thế chỉ có hai tháng chúng đứng chung một ô: tháng tư (cùng ở Mùi) và tháng mười (cùng ở Sửu). Lá số nào sinh tháng tư mà Tả Phù, Hữu Bật nằm ở hai ô khác nhau là đã nhập sai tháng.
Khi Tả Hữu tọa hoặc chiếu Mệnh, sách thường mô tả người dễ được bạn bè, đồng nghiệp ngang hàng giúp sức, làm việc nhóm thuận. Cách đọc có ích: hỏi lại mình đã thật sự biết nhờ người, biết đáp lại sự giúp đỡ chưa, chứ không ngồi chờ "quý nhân".
Văn Xương và Văn Khúc: an theo giờ sinh
Quy tắc: Văn Xương khởi giờ Tý ở ô Tuất, đếm ngược chiều tới giờ sinh. Văn Khúc khởi giờ Tý ở ô Thìn, đếm thuận chiều tới giờ sinh.
| Giờ | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Văn Xương | Tuất | Dậu | Thân | Mùi | Ngọ | Tỵ | Thìn | Mão | Dần | Sửu | Tý | Hợi |
| Văn Khúc | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão |
Cặp này cũng đối xứng qua trục Sửu – Mùi, nên chỉ đồng cung khi sinh giờ Mão (cùng ở Mùi) hoặc giờ Dậu (cùng ở Sửu). Ý nghĩa thường gắn với chữ nghĩa, thi cử, khả năng trình bày; phần đọc kỹ cho chuyện học hành nằm ở bài Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt và chuyện thi cử. Ở cung Mệnh, cách đọc hợp lý là: người có Xương Khúc thủ Mệnh thường được mô tả là thích chữ, thích diễn đạt; nếu thấy mình đúng như vậy thì đó là một thế mạnh nên đầu tư thật bằng việc đọc và viết đều đặn.
Thiên Khôi và Thiên Việt: an theo can năm
| Can năm | Thiên Khôi | Thiên Việt |
|---|---|---|
| Giáp, Mậu | Sửu | Mùi |
| Ất, Kỷ | Tý | Thân |
| Bính, Đinh | Hợi | Dậu |
| Canh, Tân | Ngọ | Dần |
| Nhâm, Quý | Mão | Tỵ |
Đây là bảng phổ biến trong sách tử vi tiếng Việt. Riêng can Canh, có tài liệu xếp Khôi ở Sửu, Việt ở Mùi như Giáp và Mậu. Người lập lá số cho tuổi Canh nên hỏi phần mềm hay người lập đang theo bảng nào; chỗ khác biệt này là chuyện của trường phái, không ai sai hẳn.
Khôi Việt được gọi là "thiên ất quý nhân": sự nâng đỡ từ người đi trước, người có vị trí. Khi hai sao chiếu Mệnh từ tam hợp, sách hay nói người có cơ hội được thầy, sếp, người lớn tuổi để ý. Cách dùng tỉnh táo: đó là lời nhắc nên xây quan hệ với người đi trước bằng việc làm tử tế, không phải lời hứa rằng ai đó sẽ tự đến cứu.
Lộc Tồn và cặp Kình Dương, Đà La
Lộc Tồn an theo can năm: Giáp ở Dần, Ất ở Mão, Bính và Mậu ở Tỵ, Đinh và Kỷ ở Ngọ, Canh ở Thân, Tân ở Dậu, Nhâm ở Hợi, Quý ở Tý. Kình Dương luôn đứng ở ô thuận kế Lộc Tồn, Đà La ở ô ngược kế Lộc Tồn.
Từ quy tắc này rút ra ba điều tự kiểm được:
- Lộc Tồn không bao giờ nằm ở bốn ô Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
- Kình Dương và Đà La lúc nào cũng kẹp Lộc Tồn. Vì vậy người có Lộc Tồn thủ Mệnh luôn có "Kình Đà giáp Mệnh". Đây không phải điềm riêng của ai, mà là hệ quả hình học.
- Ngược lại, người có Kình Dương hoặc Đà La trong Mệnh thì Lộc Tồn luôn nằm ngay ô bên cạnh.
Hiểu điều này giúp tránh một kiểu đọc gây hoảng: thấy "Kình Đà giáp Mệnh" rồi cho là xui xẻo, mà quên rằng chính giữa là Lộc Tồn, sao được coi là chủ về sự tích lũy, giữ gìn. Bức tranh đúng là cả ba sao đi cùng nhau.
Địa Không và Địa Kiếp: an theo giờ
Hai sao cùng khởi giờ Tý ở ô Hợi. Địa Kiếp đếm thuận chiều tới giờ sinh, Địa Không đếm ngược chiều. Chúng đối xứng qua trục Tỵ – Hợi, nên chỉ đồng cung khi sinh giờ Tý (cùng ở Hợi) hoặc giờ Ngọ (cùng ở Tỵ). Ví dụ sinh giờ Thìn thì Kiếp ở Mão, Không ở Mùi.
Không Kiếp là cặp sao bị sợ nhiều nhất vì hay được gắn với mất mát. Nhưng sách cũng mô tả mặt khác: lối nghĩ khác người, không theo lối mòn, chịu được biến động. Bài Địa Không, Địa Kiếp, Hóa Kỵ ở cung Tài Bạch đã đi kỹ chuyện tiền bạc; ở cung Mệnh, câu hỏi hữu ích hơn là "mình có hay quyết định theo cảm hứng rồi bỏ dở không", vì đó là điều tự quan sát được và tự sửa được.
Hỏa Tinh và Linh Tinh: vì sao bài không đưa bảng
Hỏa Tinh và Linh Tinh an theo nhóm tuổi tam hợp kết hợp với giờ sinh, và các sách khác nhau ở chiều đếm cho từng giới, từng âm dương năm sinh. Đưa một bảng duy nhất ở đây sẽ khiến người đọc tưởng chỉ có một cách đúng. Nếu phần mềm và sách của mình cho kết quả khác nhau ở riêng hai sao này, đó thường là khác trường phái chứ không phải lỗi nhập liệu. Ý nghĩa hay được nêu là sự bùng phát nhanh, nóng vội, quyết liệt; khi đi cùng chính tinh mạnh thì được đọc là có sức bật.
Ví dụ: đọc phụ tinh quanh một cung Mệnh cụ thể
Lấy một lá số mẫu: nữ, năm Đinh Mão, tháng tám âm lịch, ngày 12, giờ Thìn. Các vị trí dưới đây đã chạy kiểm bằng mã theo đúng quy tắc trong bài.
- An cung Mệnh: tháng tám ở Dậu, từ Dậu lùi tới giờ Thìn là bốn ô, cung Mệnh ở Tỵ. Chính tinh trong Mệnh là Thiên Tướng.
- Tọa thủ: ô Tỵ có Đà La. Năm Đinh thì Lộc Tồn ở Ngọ, nên Đà La ở Tỵ là đúng quy luật. Ô Mệnh còn có Thiên Mã, sao an theo chi năm (tuổi Mão thuộc nhóm Hợi Mão Mùi, Mã ở Tỵ).
- Hai ô giáp: bên Thìn là Huynh Đệ có Cự Môn; bên Ngọ là Phụ Mẫu có Thiên Lương, Lộc Tồn và Văn Xương (giờ Thìn, Xương ở Ngọ).
- Tam hợp: Tài Bạch ở Sửu có Thiên Phủ; Quan Lộc ở Dậu không có chính tinh nhưng có Thiên Việt.
- Xung chiếu: Thiên Di ở Hợi có Vũ Khúc, Phá Quân, cùng Thiên Khôi và Tả Phù (tháng tám, Tả Phù ở Hợi).
Tổng hợp lại: trong sáu ô quanh Mệnh có đủ cặp Khôi Việt (Khôi xung chiếu từ Hợi, Việt hội chiếu từ Dậu), có Tả Phù chiếu, có Văn Xương ở ô giáp, và một sao sát là Đà La ngay trong Mệnh. Không Kiếp nằm ở Mão và Mùi, ngoài vùng sáu ô này.
Một cách diễn đạt có chừng mực: "Lá số này có nhiều sao gợi ý sự nâng đỡ từ bên ngoài và từ người đi trước, nhất là khi ra ngoài làm việc. Đà La trong Mệnh hay được đọc là tính cẩn thận đến mức chậm, đôi khi dây dưa. Nếu bản thân thấy mình hay chần chừ trước quyết định lớn, đó là chỗ đáng tập: đặt hạn chót cho việc cân nhắc." Không câu nào hứa hẹn, không câu nào doạ.
Đọc cho cân: cát không bảo đảm, sát không định tội
Người mới hay đếm số sao cát trừ số sao sát để ra điểm. Cách này sai vì ba lẽ:
- Cùng một phụ tinh, đứng cạnh chính tinh khác nhau thì được đọc khác nhau. Kình Dương đi với một chính tinh có tính quyết đoán thường được đọc là sức bật; đi với chính tinh mềm thì được đọc là áp lực.
- Độ sáng của chính tinh, Tuần Triệt, tứ hóa đều làm đổi cách đọc phụ tinh, như đã nói trong bài về độ sáng và Tuần Triệt.
- Cung Mệnh vô chính diệu thì phụ tinh trong ô có trọng lượng lớn hơn hẳn; xem thêm bài Mệnh vô chính diệu có đáng lo không.
Hơn nữa, rất nhiều người có Không Kiếp hay Kình Đà quanh Mệnh vẫn sống bình thường, làm việc tốt. Sáu sao sát xuất hiện trong lá số của tất cả mọi người, chỉ khác nhau chỗ đứng. Không có lá số nào "sạch" sao sát.
Những sai lầm thường gặp
| Sai lầm | Vì sao sai | Nên làm |
|---|---|---|
| Chỉ nhìn ô Mệnh | Bỏ sót sao giáp và sao chiếu | Đếm đủ sáu ô quanh Mệnh |
| Thấy "Kình Đà giáp Mệnh" là lo | Quên Lộc Tồn luôn ở giữa | Đọc cả bộ ba sao |
| Coi Khôi Việt là "sẽ gặp quý nhân" | Biến gợi ý thành lời hứa | Dùng như lời nhắc xây quan hệ |
| Cộng trừ điểm cát sát | Phụ tinh phụ thuộc chính tinh | Đọc theo cặp và theo chính tinh |
| Tin một bảng Hỏa Linh duy nhất | Các sách khác nhau | Hỏi người lập theo phái nào |
Cẩn thận với những lời bán "hóa giải sao sát"
Không Kiếp, Kình Đà là chất liệu quen thuộc của kiểu tư vấn gieo lo rồi bán cách giải: "Mệnh có Không Kiếp, phải làm lễ, phải đeo vật này mới đỡ". Dấu hiệu nhận ra: lời phán nặng, giá cao, giục quyết ngay, dặn đừng nói với ai. Phụ tinh trong lá số không đổi được bằng bất cứ vật gì, vì nó được tính từ ngày giờ sinh đã qua. Thứ đổi được là thói quen và cách mình ra quyết định.
Khi nào nên hỏi người có chuyên môn
- Khi phần mềm và sách cho vị trí Khôi Việt, Hỏa Linh khác nhau: hỏi người đọc lá số lâu năm để biết họ theo bảng nào.
- Khi đọc thấy nhiều sao sát rồi mất ngủ, lo âu kéo dài: nỗi lo ấy đáng được nói với người thân hoặc người tư vấn tâm lý hơn là tìm thêm thầy.
- Khi phụ tinh bị dùng để khuyên những quyết định lớn về sức khoẻ, tiền bạc, pháp lý: hỏi bác sĩ, người lập kế hoạch tài chính hoặc luật sư.
Nếu muốn giữ một món nhỏ bên mình như lời nhắc tập tính kiên nhẫn hay tập chủ động, có thể xem các loại đá hộ mệnh; nên coi đó là vật nhắc nhở do mình chọn, không phải thứ "trấn" sao xấu.