Cách an cung Mệnh theo tháng và giờ sinh: làm tay từng bước, kèm ba ví dụ đã kiểm
Trả lời ngắn: muốn an cung Mệnh, đặt tháng Giêng âm lịch ở ô Dần rồi đếm thuận chiều kim đồng hồ tới tháng sinh. Từ ô vừa dừng, gọi đó là giờ Tý và đếm ngược chiều kim đồng hồ tới giờ sinh; ô cuối cùng là cung Mệnh. Ví dụ sinh tháng bảy giờ Dần thì Mệnh ở ô Ngọ. Cả việc chỉ mất vài phút với một tờ giấy kẻ mười hai ô.
Chuẩn bị: một tờ giấy và hai dữ kiện
Không cần phần mềm. Kẻ một hình vuông, chia mỗi cạnh thành bốn đoạn để có mười hai ô bao quanh. Điền địa chi theo cách vẽ quen thuộc: góc dưới bên trái là Dần, đi lên là Mão, Thìn, góc trên bên trái là Tỵ, đi ngang sang phải là Ngọ, Mùi, góc trên bên phải là Thân, đi xuống là Dậu, Tuất, góc dưới bên phải là Hợi, rồi Tý, Sửu nằm ở cạnh dưới quay về Dần.
Đi theo thứ tự Tý, Sửu, Dần… Hợi như vậy chính là chiều kim đồng hồ trên hình vẽ. Thử đặt ngón tay chạy một vòng để quen tay trước khi đếm thật.
Hai dữ kiện cần có:
- Tháng sinh âm lịch (không phải dương lịch). Ai chỉ nhớ ngày dương thì đổi qua lịch vạn niên hoặc ứng dụng đổi lịch tin cậy.
- Giờ sinh quy ra mười hai canh giờ.
Bảng quy đổi canh giờ
| Canh giờ | Khoảng giờ đồng hồ |
|---|---|
| Tý | 23 giờ đến 1 giờ |
| Sửu | 1 đến 3 giờ |
| Dần | 3 đến 5 giờ |
| Mão | 5 đến 7 giờ |
| Thìn | 7 đến 9 giờ |
| Tỵ | 9 đến 11 giờ |
| Ngọ | 11 đến 13 giờ |
| Mùi | 13 đến 15 giờ |
| Thân | 15 đến 17 giờ |
| Dậu | 17 đến 19 giờ |
| Tuất | 19 đến 21 giờ |
| Hợi | 21 đến 23 giờ |
Người sinh sát ranh giới, ví dụ 6 giờ 55 hay 23 giờ 10, nên đánh dấu lại. Đó là những trường hợp đáng lập thử hai lá số để so, vì lệch một canh là cung Mệnh dời sang ô bên cạnh.
Bước một: tìm ô của tháng sinh
Đặt tháng Giêng vào ô Dần. Đếm thuận chiều kim đồng hồ: tháng hai ở Mão, tháng ba ở Thìn, tháng tư ở Tỵ, tháng năm ở Ngọ, tháng sáu ở Mùi, tháng bảy ở Thân, tháng tám ở Dậu, tháng chín ở Tuất, tháng mười ở Hợi, tháng mười một ở Tý, tháng chạp ở Sửu.
Mẹo nhớ: tháng Giêng ứng với Dần là vì lịch âm truyền thống lấy tháng Dần làm tháng đầu năm. Nhớ một mốc đó là đủ suy ra mười một tháng còn lại.
Bước hai: từ ô tháng, đếm giờ ngược chiều
Đứng ở ô tháng sinh, gọi ô ấy là giờ Tý. Lùi một ô ngược chiều kim đồng hồ là giờ Sửu, lùi tiếp là giờ Dần, và cứ thế. Dừng ở giờ sinh của mình, ô đó là cung Mệnh.
Chiều đếm là chỗ người mới hay sai nhất: tháng đếm thuận, giờ đếm ngược. Nếu đếm giờ cũng thuận, kết quả ra cung Thân chứ không phải cung Mệnh. Vì thế nhiều người lỡ tay lại ra "Mệnh trùng Thân" rất lạ.
Ba ví dụ đã kiểm lại
Các ví dụ dưới đây đã được đối chiếu bằng phép tính vị trí: lấy ô Dần làm mốc, cộng số tháng trừ một, rồi trừ số thứ tự của giờ (Tý tính là không).
- Tháng ba, giờ Thìn. Tháng ba ở Thìn. Từ Thìn gọi Tý, lùi Mão là Sửu, Dần là Dần, Sửu là Mão, Tý là Thìn. Cung Mệnh ở Tý.
- Tháng bảy, giờ Dần. Tháng bảy ở Thân. Từ Thân gọi Tý, lùi Mùi là Sửu, Ngọ là Dần. Cung Mệnh ở Ngọ.
- Tháng mười một, giờ Sửu. Tháng mười một ở Tý. Từ Tý gọi Tý, lùi Hợi là Sửu. Cung Mệnh ở Hợi.
Có một quy luật nhỏ giúp tự kiểm: người sinh giờ Tý luôn có cung Mệnh nằm đúng ở ô tháng sinh, vì không phải lùi ô nào. Người sinh giờ Ngọ thì Mệnh nằm ở ô đối diện ô tháng sinh, vì lùi đúng sáu ô.
Bước ba: an mười một cung còn lại
Có ô Mệnh rồi, đi thuận chiều kim đồng hồ ghi lần lượt: Phụ Mẫu, Phúc Đức, Điền Trạch, Quan Lộc, Nô Bộc, Thiên Di, Tật Ách, Tài Bạch, Tử Tức, Phu Thê, Huynh Đệ. Với ví dụ tháng bảy giờ Dần, Mệnh ở Ngọ thì Phụ Mẫu ở Mùi, Quan Lộc ở Tuất, Thiên Di ở Tý, Tài Bạch ở Dần, Phu Thê ở Thìn, Huynh Đệ ở Tỵ.
Kiểm nhanh: Thiên Di luôn nằm đối diện Mệnh. Quan Lộc và Tài Bạch cách Mệnh đều bốn ô hai phía, tạo thành một tam giác đều. Nếu hình vẽ không ra tam giác đó, đã đếm nhầm ở đâu đó.
Sau khi có cung Mệnh thì còn gì phải làm
An cung Mệnh mới là bước đầu. Để có lá số đầy đủ còn phải tìm thiên can cho từng cung theo can năm sinh, từ can chi của cung Mệnh suy ra Cục (Thủy nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục, Hỏa lục cục), rồi dùng Cục cùng ngày sinh để an sao Tử Vi và từ đó an mười bốn chính tinh. Mỗi bước đều có bảng tra riêng, làm tay thì lâu và dễ sai hơn nhiều so với bước an Mệnh.
Vì thế cách thực tế là tự an cung Mệnh, cung Thân bằng tay để hiểu nguyên lý, rồi dùng một phần mềm lập lá số để có phần sao, sau đó đối chiếu xem ô Mệnh của phần mềm có khớp với ô mình tự đếm không. Không khớp thì kiểm lại tháng âm lịch hoặc giờ sinh đã nhập.
Những trường hợp cần cẩn thận
- Tháng nhuận: các trường phái xử lý khác nhau. Có nơi tính cả tháng nhuận theo tháng trước, có nơi chia đôi: nửa đầu theo tháng trước, nửa sau theo tháng sau. Nên hỏi rõ người lập lá số theo cách nào.
- Sinh giờ Tý sau nửa đêm: giờ Tý vắt qua hai ngày dương lịch. Ngày sinh âm lịch dùng để an sao có thể bị lệch một ngày tùy cách tính.
- Sinh ở nước ngoài: giờ ghi trên giấy khai sinh là giờ địa phương nơi sinh. Có người quy về giờ Việt Nam, có người giữ giờ địa phương; mỗi cách cho ra lá số khác.
Những ca này không có đáp án duy nhất. Người đọc lá số trung thực sẽ nói rõ mình chọn cách nào và vì sao.
Ai thích làm tay với giấy bút có thể giữ một quyển sổ riêng cho việc ghi lá số, đặt cạnh vài cuốn sách nhập môn tìm trong mục sách phong thủy; tự đếm vài chục lá số là nhớ nguyên lý lâu hơn bất cứ bảng tra nào.